Phần thứ hai

PHẦN THỨ HAI

Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc từ 1945 đến 1975.

Phần này thể hiện trong 14 phòng trưng bày tiếp theo từ phòng số 10 đến phòng số 24.

Với chủ đề Bảo vệ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà 1945-1946, những hình ảnh, tài liệu được trưng bày tại phòng số 10 đã nói lên tình hình cực kỳ khó khăn phức tạp mà chính quyền dân chủ nhân dân mới ra đời phải đối mặt: nạn đói, nạn giốt và thù trong giặc ngoài; những sách lược mềm dẻo nhưng cương quyết của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm bảo vệ, giữ vững chủ quyền dân tộc, chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1946-1954.

Với ý chí “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp là một cuộc trường chinh đầy gian khổ hy sinh, một bản hùng ca bi tráng của lịch sử dân tộc Việt Nam. Cả nước Việt Nam là một mặt trận mà ở đó, mỗi người Việt Nam yêu nước nào cũng là một chiến sĩ trên mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao… Nhân dân Việt Nam trong nghèo nàn, thiếu thốn với quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc đã đi từ gậy tầm vông vót nhọn, từ bom ba càng, từ vũ khí thô sơ tự chế tạo trong những ngày đấu kháng chiến 1945-1946 qua chiến thắng Biên Giới đến Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam. Cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng tiến lên xây dựng CNXH và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. (Phòng số 11-14). Gồm các vấn đề sau:

1. Lĩnh vực Chính trị (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương (2-1951) tại Việt Bắc – đại hội xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi; Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt thành Mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Mặt trận Liên Việt) tháng 3-1951, Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá I thông qua Luật Cải cách ruộng đất …

2. Lĩnh vực Quân sự: xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang với 3 thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; chiến đấu và thắng lợi trên mặt trận quân sự: những ngày đầu toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 – 17/2/1947), chiến dịch Việt Bắc (1947), Biên Giới (9-1950), chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954).

3. Xây dựng nền kinh tế độc lập, văn hoá, giáo dục, y tế, ngoại giao… thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ 1954-1975.

Cuộc chống Mỹ cứu nước là một cuộc chiến tranh được tiến hành trên bộ, trên biển và cả trên không. Thấm nhuần chân lý “Không có gì quí hơn độc lập tự do”, cả nước một lòng, toàn dân đánh Mỹ. Nhân dân hai miền phối hợp chặt chẽ theo tinh thần miền Bắc là hậu phương lớn sẵn sàng chi viện sức người, sức của, trực tiếp chia lửa với tiền tuyến lớn miền Nam quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. (Phòng số 15-24). Gồm các vấn đề sau:

1. Khôi phục, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền Bắc, đấu tranh hoà bình thống nhất đất nước. (1954-1960)

2. Xây dựng miền Bắc, đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở miền Nam (1961-1965).

3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam (1965-1972).

4. Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đại thắng mùa xuân 1975 là kết quả và đỉnh cao của 30 năm chiến đấu vô cùng anh dũng của quân và dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, mở ra một thời kỳ mới: đất nước hoà bình, thống nhất đi lên CNXH.

Lần cập nhật mới nhất ( 04 / 08 / 2005 )

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *